Hàn Quốc ( Phần 2 )-Năng lượng và giao thông

Năng lượng và giao thông

  

Giới thiệu
Nền kinh tế phát triển nhanh của Hàn Quốc tạo ra sức ép to lớn lên cơ sở hạ tầng của đất nước vì mức sống cao đòi hỏi nhiều năng lượng hơn và dịch vụ giao thông tốt hơn. Ở một nước mà 70% diện tích là đồi núi và hầu như không có các nguồn năng lượng tự nhiên thì điều này là một thách thức lớn đối với chính phủ.

 


Thiếu hụt nghiêm trọng về năng lượng
Hàn Quốc là một nước đang “khát” năng lượng do kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và do thu nhập cá nhân tăng. Chẳng hạn, từ năm 1970 đến năm 2001, mức tiêu thụ năng lượng trung bình của mỗi người Hàn Quốc tăng 78,8%. Trong khi, cùng thời kỳ, các chỉ số này ở Nhật Bản là 66%, ở Anh là 7% ở Mỹ là 5% và thậm chí còn giảm 10% ở Đan Mạch. Giống như những nước khát năng lượng, Hàn Quốc hầu như không có những nguồn năng lượng đáng kể nào. Trên dãy Taebaek cũng có các mỏ than, nhưng đều có chất lượng thấp và chỉ thích hợp để sưởi ấm trong nhà. Ở các sông lớn, năng lượng thủy điện cũng được khai thác để sản xuất điện nhưng năm 2002 nguồn năng lượng này chỉ chiếm 1,1% tổng sản lượng điện. Do đó, phần lớn năng lượng của Hàn Quốc phải nhập khẩu.

  

Sự phụ thuộc về năng lượng
Năm 2003, Hàn Quốc là nước đứng thứ 5 thế giới về nhập khẩu tịnh dầu mỏ và đứng thứ 2 về nhập khẩu khí hóa lỏng. Hai nguồn năng lượng này chiếm xấp xỉ 55% và 10% tổng lượng năng lượng tiêu thụ ở Hàn Quốc. Than chiếm hơn 21%, và hầu hết than cũng phải nhập khẩu. Điều này khiến Hàn Quốc phụ thuộc rất nhiều vào thị trường năng lượng thế giới trong việc đáp ứng các nhu cầu về năng lượng và cũng rất dễ bị tác động bởi biến động giá quốc tế. Nhằm khắc phục vấn đề phụ thuộc về năng lượng, Hàn Quốc đầu tư vào hàng loạt dự án năng lượng. Ví dụ, ngay trong nước, năng lượng hạt nhân đã được đầu tư mạnh từ năm 1997 để thay thế năng lượng sản xuất bằng than hay dầu. Đến năm 2004, đã có 18 nhà máy điện hạt nhân được đưa vào hoạt động và một con số lớn hơn các nhà máy đang trong quá trình xây dựng.
Hàn Quốc cũng đầu tư vào các mỏ năng lượng ở nước ngoài nhằm đảm bảo nguồn năng lượng cho nền kinh tế đang liên tục tăng trưởng của mình. Tổng công ty Dầu khí Quốc gia Hàn Quốc (KNOC) có những khu vực khai thác dầu ở Argentina, Peru, Yemen, Venezuela, Libya, Việt Nam và Biển Bắc. Chính phủ đã tuyên bố rằng, đến năm 2010, KNOC sẽ đáp ứng được 10% nhu cầu dầu của cả nước. Tổng công ty năng lượng điện Quốc gia KEPCO (Korea Electric Power Corporation) cũng đầu tư vào một số mỏ than của Ôxtrâylia, đảm bảo đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu về than của Hàn Quốc một cách ổn định.

 
Năng lượng hạt nhân

Lượng điện được sản xuất từ năng lượng hạt nhân ở Hàn Quốc được dự tính sẽ tăng 70% trong giai đoạn 2000 – 2020.

Năng lượng vô tận


Không chỉ hạn chế về năng lượng thủy điện, Hàn Quốc cũng không có các nguồn năng lượng vô tận đáng kể nào. Năng lượng mặt trời được đặc biệt chú ý bởi công nghệ sản xuất năng lượng mặt trời trở nên rẻ hơn và hiệu quả hơn. Chẳng hạn, ở Daegu, trường Đại học Quốc gia Kyungpook đã đi đầu trong việc xây dựng “khu đại học xá sử dụng năng lượng mặt trời” để chứng minh khả năng của những công nghệ năng lượng mặt trời khác nhau trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng trong tương lai. Năng lượng mặt trời cũng được sử dụng trong những xí nghiệp quy mô nhỏ hay ở các vùng xa xôi và đây là hình thức tạo ra điện năng và nhiệt năng có hiệu quả nhất. Từ phạm vi sử dụng rất hạn hẹp ban đầu, năng lượng sức gió đã được ứng dụng rộng rãi hơn. Năm 2002, chỉ có 11 trạm phát điện sức gió (hay những tuốc bin đơn lẻ) mà chủ yếu đặt ở Jeju-do. Là một bán đảo, Hàn Quốc có nguồn gió đáng kể từ đại dương thổi vào – nhất là ở vùng tây nam và các hòn đảo phía nam. Đến năm 2004, những hệ thống về năng lượng sức gió mới được các công ty Đức và Nhật Bản chuyên về lĩnh vực này phát triển.

  
Giao thông đường bộ

Cũng như ở nhiều nước phát triển, nhờ thu nhập tăng nên có rất nhiều người Hàn Quốc mua được xe riêng. Năm 2001, Hàn Quốc có khoảng 8,9 triệu xe hơi, hơn 3,7 triệu xe tải và xe buýt hoạt động trên đường. Phần lớn số xe này được bổ sung thêm từ những năm 1980. Số xe hơi tính trên 1000 người tăng từ 6,5 chiếc năm 1980 lên 48,4 chiếc năm 1990 và 171 chiếc vào năm 2000. Mức tăng quá cao của các loại xe hơi khiến các đường phố của Hàn Quốc hiện vô cùng đông đúc tắc nghẽn, tai nạn, ô nhiễm liên quan đến giao thông đã trở thành những vấn đề lớn.

  
Hệ thống đường bộ của Hàn Quốc được mở rộng nhanh chóng từ những năm 1950 và ngày nay dài tới 87.000 km. Những con đường quan trọng nhất nước là những con đường cao tốc tỏa ra từ Seoul tới các thành phố lớn khác, có tổng độ dài 2000 km. Chúng cũng được nối với những thành phố chính như Ulsan, Busan ở phía nam. Các đường cao tốc bắt đầu được xây dựng từ năm 1967 và hầu hết được hoàn thành vào năm 1976. Chúng có ảnh hưởng quan trọng đối với đất nước, giúp người dân tới được bất cứ nơi nào trong nước trong vòng 24 giờ. Chúng cũng cho phép vận chuyển một lượng sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp lớn hơn. Nó cũng đẩy nhanh quá trình đô thị hóa vì người dân có thể đi đến các thành phố dễ dàng hơn nhiều, Hàn Quốc tiếp tục xây dựng nhanh hệ thống đường sá, với nhiều đường cao tốc ở các thành phố lớn và các đường quốc lộ tới những vùng xa xôi hơn, như vùng núi phía đông.

  
Tắc nghẽn giao thông
Mật độ giao thông đường bộ của Hàn Quốc (số xe trên 1 km đường) là khoảng 120 xe, gấp đôi của Nhật Bản và Anh, gấp 4 lần của Đan Mạch và Mỹ.
Hệ thống xe buýt
Ở Hàn Quốc, xe buýt là phương tiện giao thông chính giữa các thành phố, Hàn Quốc có hệ thống xe buýt rộng rãi, hành trình thường xuyên và chạy trên tất cả các tuyến đường chính. Xe buýt tốc hành thì có số trạm dừng hạn chế và di chuyển nhanh hơn giữa các thị trấn và thành phố chính. Xe buýt tốc hành tỏa ra từ Seoul, chạy theo các đường cao tốc, và chủ yếu được sử dụng như là phương tiện thay thế rẻ tiền cho tàu hỏa. Xe buýt giữa các thành phố chạy theo những tuyến đường bình thường (không phải đường cao tốc). Có hai loại xe buýt: loại tốc hành thì có ít điểm dừng còn loại xe buýt thường thì dừng ở mọi bến và mọi thị trấn trên hành trình. Dịch vụ xe buýt liên thành phố này đặc biệt quan trọng đối với những người sống ở vùng nông thôn và người già bởi họ thường có mức thu nhập thấp và cũng ít khi có xe riêng.

 
 Hệ thống đường sắt
Hệ thống đường sắt Hàn Quốc bị hạn chế bởi đặc điểm địa lý đất nước và chủ yếu nằm ở những vùng phía tây và phía nam ít đồi núi. Đây cũng là khu vực có phần lớn cư dân sinh sống. Đến năm 2004, tổng chiều dài của hệ thống này là 3.388 km, bao gồm cả những tuyến đường mới được xây dựng cho loại tàu cao tốc KTX. Loại tàu này bắt đầu chạy giữa Seoul, Mokpo và Busan vào tháng Ba 2004. Tàu KTX có thể đạt tốc độ 300 km/h và được hy vọng sẽ giúp hồi sinh hệ thống đường sắt làm ăn thua lỗ của Hàn Quốc. Số khách đi tàu không phải là một vấn đề bởi lượng cầu tăng khoảng 60% mỗi năm trong giai đoạn 1994 – 2004, mà vấn đề là ở chỗ hệ thống đường sắt không thể đối phó được tình trạng này. Dự đoán rằng, số tàu KTX và số tuyến đường mới sẽ cho phép tăng công suất vận chuyển hành khách 340%, từ 180.000 khách lên 620.000 khách mỗi ngày.

  
Đường sắt trong thành phố
Năm 1971, Seoul bắt dầu xây dựng hệ thống tàu điện ngầm để việc đi lại trong thành phố được nhanh chóng, hiệu quả hơn và để giảm tắc nghẽn giao thông. Hệ thống này sẽ phát triển dài tới gần 500 km và chạy ngang dọc theo 8 tuyến chủ yếu (kể cả các tuyến đường mới và các phần kéo dài thêm của các tuyến cũ) được dự định xây dựng năm 2010. Hệ thống này hoàn toàn tự động hóa và hàng triệu người sẽ sử dụng mỗi ngày. Busan, Daegu, Incheon và Daejeon cũng làm theo Seoul và đưa tàu điện ngầm vào sử dụng để giải quyết nhu cầu giao thông đô thị của mình. Tàu công nghệ cao cũng đang được phát triển để hoàn thành vào năm 2010. Loại tàu này sẽ có vận tốc lớn hơn trước 30%, cho phép tận dụng được hệ thống đường ray nhiều hơn và do đó sẽ phục vụ được nhiều khách hơn.

  
Các tuyến đường quốc tế
Do Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nằm chắn Hàn Quốc với lục địa châu Á nên các tuyến đường giao thông quốc tế của Hàn Quốc chủ yếu là đường không và đường biển và đều có chất lượng rất tốt. Đường biển chủ yếu được sử dụng để vận chuyển hàng hoá cũng như dịch vụ chuyên chở bằng tàu thủy quốc tế. Chúng cũng giúp nối vô số đảo của Hàn Quốc với đất liền. Các cảng chính gồm Busan (cảng sầm uất thứ năm trên thế giới), Pohang, Incheon, Gwangyang và các cảng khác như Tonghae, Mokpo và Jeju cũng đều rất quan trọng. Cơ sở vật chất ở các cảng chính này thuộc hàng tốt nhất trên thế giới về xếp dỡ container và hàng hoá cồng kềnh. Công suất sử dụng cơ sở vật chất ở những cảng này vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng. Chẳng hạn, từ năm 2000 đến năm 2002, lượng container hàng hoá được xếp dỡ tăng 28%, trong khi mức tăng này của Mỹ và Nhật Bản chỉ là 5% và 3%. Phà chở khách hoạt động ở rất nhiều bến, phục vụ nhu cầu của người dân ở đảo và tuyến du lịch quan trọng tới Jeiu-do. Các cảng lớn cũng có dịch vụ chuyên chở bằng phà quốc tế tới Trung Quốc, Nhật Bản và Nga.
 
 Hàn Quốc có một mạng lưới hàng không trong nước và quốc tế rộng lớn với 7 sân bay nội địa và 8 sân bay quốc tế. Seoul là trung tâm hàng không đầu tiên, có hai sân bay quốc tế là sân bay Gimpo và sân bay Incheon mới mở cửa vào tháng Ba 2002. Được xây dựng trên khu đất được cải tạo, sân bay quốc tế Incheon là một trong những sân bay lớn nhất thế giới và có tham vọng trở thành đầu mối hàng không ở Đông Bắc Á với hơn 60 thành phố có trên 1 triệu dân và chỉ cách có 2 giờ bay.

 
 

Hàn Quốc ( Phần 1 )

VA

Posted by Việt Anh