Bức tường Berlin hình thành và sụp đổ như thế nào

VA – Thật tuyệt vời, tôi đã chứng kiến sự sụp đổ của Bức tường Berlin, và chứng kiến sự phát triển chóng mặt của nước Đức sau khi thống nhất.

Dân tộc Đức là một dân tộc đáng để chúng ta học tập . Họ đã vứt bỏ chủ nghĩa cộng sản … Thống nhất nước Đức , xây dựng một chế độ XH tốt đẹp hơn . 

Tôi hy vọng được chứng kiến điều này ở Việt Nam – quê hương tôi .


Bức tường Berlin, ngăn cách phần Đông và Tây thành phố, là một trong những biểu tượng mạnh mẽ nhất của Chiến tranh Lạnh. Sự sụp đổ của nó dẫn đến thống nhất nước Đức và đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử thế giới hiện đại.

Vào ngày 13/8/1961, chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức (GDR hay Đông Đức) bắt đầu dựng hàng rào dây thép gai và “bức tường chống phát xít” (Antifascistischer Schutzwall), giữa Đông và Tây Berlin. Mục đích chính thức của Bức tường Berlin này là nhằm ngăn cái gọi là “những kẻ phát xít” phương Tây vào Đông Đức, nhưng nó cũng nhằm ngăn việc di tản quy mô lớn từ Đông sang Tây. Bức tường Berlin vẫn đứng sừng sững cho tới ngày 9/11/1989, khi lãnh đạo đảng Công nhân xã hội thống nhất cầm quyền thông báo công dân của GDR có thể vượt qua biên giới bất kỳ khi nào họ muốn. 

Đêm đó, những đám đông hồ hởi đổ về bức tường. Một số tự do vượt qua để vào Tây Berlin, trong khi những người khác đem búa, dùi và bắt đầu đục đẽo tường. Đến nay, Bức tường Berlin vẫn là một trong những biểu tượng mạnh mẽ nhất, lâu dài nhất của Chiến tranh Lạnh. 
  

Nước Đức sau Thế chiến II (1/9/1945), với các vùng do Anh (màu vàng đậm), Mỹ (màu xanh nõn chuối), Pháp (màu xanh nước biển) và Liên Xô (màu hồng) cai quản. Đồ họa: A.Kunz

Khi Thế chiến II kết thúc vào năm 1945, hai hội nghị hòa bình của phe đồng minh tại Yalta và Potsdam quyết định số phận của những vùng lãnh thổ Đức. Họ chia nước bại trận thành 4 “vùng cai quản của đồng minh”. Phần phía đông của đất nước thuộc về Liên Xô, trong khi phần phía tây thuộc về Mỹ, Anh và Pháp. 

Dù Berlin nằm hoàn toàn trong vùng Liên Xô kiểm soát (cách ranh giới giữa các vùng cai quản đông và tây hơn 160 km), các hiệp định Yalta và Potsdam chia thành phố thành những phần tương tự. Liên Xô cai quản nửa phía đông, còn các đồng minh khác kiểm soát phần phía tây. Việc chiếm đóng 4 bên ở Berlin bắt đầu vào tháng 6/1945. 

Phong tỏa và khủng hoảng

Việc Tây Berlin, một thành phố tư bản chủ nghĩa, tồn tại sâu trong lòng Đông Đức theo xã hội chủ nghĩa, “như một cục xương hóc trong cổ họng Xô Viết”, như lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev, từng nói. Năm 1948, một cuộc phong tỏa Tây Berlin của Liên Xô diễn ra nhằm buộc các đồng minh phương Tây chịu đói và phải rời khỏi thành phố. Tuy nhiên, thay vì rút lui, Mỹ và đồng minh tiếp viện từ trên không cho các vùng của họ ở thành phố. Nỗ lực này được biết đến với cái tên Cuộc Không vận Berlin và kéo dài hơn một năm, vận chuyển hơn 2,3 triệu tấn lương thực, chất đốt và hàng hóa khác tới Tây Berlin. Liên Xô dừng phong tỏa vào năm 1949. 

Kể từ khi Liên Xô chấm dứt phong tỏa, gần ba triệu người đã di tản khỏi Đông Đức, trong số đó có nhiều người trẻ tuổi, có kỹ năng, như bác sĩ, giáo viên, kỹ sư. Sau một thập kỷ tương đối yên bình, căng thẳng bùng phát một lần nữa năm 1958. Những hội nghị và các cuộc đàm phán khác diễn ra mà không đem đến giải pháp nào, trong khi đó, người di tản vẫn tiếp tục. Vào tháng 6/1961, khoảng 19.000 người rời GDR qua Berlin. Tháng sau đó, 30.000 di tản. Trong 11 ngày tháng 8, có tới 16.000 người Đông Đức vượt qua ranh giới để vào Tây Berlin, và vào ngày 12/8, con số này vào khoảng 2.400 người, con số người di tản khỏi Đông Đức lớn nhất trong riêng một ngày.

Tường Berlin được xây dựng

Đêm đó, chính quyền Đông Đức quyết định ngăn dòng người di tản bằng cách đóng cửa biên giới vĩnh viễn. Chỉ trong hai tuần, quân đội, cảnh sát và các công nhân xây dựng tình nguyện của Đông Đức đã hoàn tất hàng rào thép gai và bức tường bê tông, Bức tường Berlin, ngăn đôi thành phố. 

Trước khi tường được xây dựng, người Berlin ở cả hai bên có thể di chuyển khá tự do. Họ vượt qua ranh giới Đông – Tây để đi làm, mua sắm, đi nhà hát và rạp phim. Các tuyến đường tàu và tàu điện ngầm đưa hành khách ngược xuôi. Sau khi tường được dựng lên, việc đi từ Đông sang Tây Berlin là điều không thể, trừ việc đi qua một trong ba trạm kiểm soát: trạm Alpha ở Helmstedt, trạm Bravo ở Dreilinden và trạm Charlie ở Friedrichstrasse, trung tâm Berlin. Cuối cùng, GDR xây dựng 12 trạm kiểm soát dọc bức tường. Tại mỗi trạm, binh sĩ Đông Đức kiểm tra các nhà ngoại giao và các quan chức khác trước khi họ được phép đi hoặc đến. Trừ trường hợp đặc biệt, những người đi từ Đông và Tây Berlin hiếm khi được vượt qua biên giới. 

Bức tường Berlin trong giai đoạn 1961 – 1989

Việc xây Bức tường Berlin đã không ngăn được dòng người di tản từ Đông sang Tây, nhưng đã xoa dịu cuộc khủng hoảng Berlin. Tổng thống Mỹ John F. Kennedy cũng thừa nhận “một bức tường thì tốt hơn rất nhiều một cuộc chiến tranh”. Theo thời gian, các quan chức Đông Đức thay thế bức tường tạm bằng một bức tường kiên cố hơn, khó trèo hơn. 

Một bức tường dựng bằng các tấm bê tông cốt thép cao 3,6 m, rộng 1,2 m có phần trên là một đường ống khổng lồ khiến việc trèo qua gần như bất khả thi. Đằng sau bức tường ở phía Đông Đức gồm một dải cát mềm (để cho thấy vết chân), đèn pha, chó dữ, những khẩu súng máy, vọng gác và lính canh với chỉ thị bắn những người bỏ trốn. 

Ít nhất 171 người thiệt mạng khi cố vượt qua, ở phía dưới hoặc xung quanh Bức tường Berlin. Tuy nhiên từ năm 1961 tới khi bức tường sụp đổ năm 1989, hơn 5.000 người Đông Đức (trong đó có khoảng 600 lính biên phòng) đã vượt qua được ranh giới bằng cách nhảy từ cửa sổ tòa nhà gần bức tường, trèo qua dây thép gai, bay bằng khinh khí cầu, bò qua cống và lái xe băng qua những phần bỏ ngỏ của bức tường.

Sự sụp đổ của Bức tường Berlin

  

Trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh bắt đầu “tan băng” ở Đông Âu, vào ngày 1/11/1989, ông Egon Krenz, lãnh đạo mới của Đông Đức đến Điện Kremlin đã gặp ông Mikhail Gorbachev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Theo International Business Times, trong cuộc gặp mặt bí mật này, ông Krenz mang theo thông điệp ảm đạm: kinh tế Đông Đức đang trên bờ vực sụp đổ và GDR không thể trả lãi cho những món nợ khổng lồ, điều đã bị người tiền nhiệm của ông Krenz giấu kín trước những cố vấn hàng đầu của ông và các lãnh đạo Liên Xô.

Ông Krenz nói với Gorbachev rằng nếu không được hỗ trợ về tài chính và quân sự từ Liên Xô, Đông Đức sẽ phải thông báo tình trạng khẩn cấp để ngăn các cuộc biểu tình chống chính phủ quy mô lớn ở Leipzig lan tới Berlin. Tuy nhiên, Gorbachev tuyên bố trách nhiệm ngăn lượng người di tản quy mô lớn khỏi GDR thuộc về ông Krenz. 

“Ngay sau đó, Gorbachev ban hành chỉ thị nhắc nhở các vị tướng quân sự rằng quân đội Xô Viết trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được tham gia vào cuộc xung đột giữa chính quyền ở Berlin và công dân Đông Đức”, nhà sử học, nhà báo Victor Sebestyen kể về những sự kiện dẫn đến việc Bức tường Berlin sụp đổ, trong cuốn sách Revolution 1989 (tạm dịch: Cuộc Cách mạng 1989). Chính sách từ chối dùng vũ lực của Gorbachev đã ngăn chặn nguy cơ đổ máu khi GDR đổ vỡ. 

Vào ngày 9/11/1989, phát ngôn viên đảng cầm quyền của Đông Berlin thông báo về sự thay đổi trong chính sách du lịch. Người này nói rằng ngay từ đêm hôm đó, các công dân GDR được tự do vượt qua ranh giới. Người Đông Berlin và Tây Berlin đổ về phía bức tường, uống bia và sâm panh, hô to “Tor auf!” (Mở cửa đi!). Vào nửa đêm, họ tràn qua những trạm kiểm soát.

Hơn hai triệu người từ Đông Berlin thăm Tây Berlin vào cuối tuần đó để tham gia ăn mừng trong một sự kiện được mô tả là “lễ hội đường phố vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới”. Những người dùng búa, dùi để đục đẽo tường được gọi là “chim gõ kiến trên tường”, trong khi cần trục và xe ủi kéo sập từng phần của bức tường. Ngay sau đó, bức tường bị đánh sập và Berlin lần đầu tiên được thống nhất kể từ năm 1945.

Đông và Tây Đức chính thức hợp nhất vào ngày 3/10/1990, gần một năm sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, trở thành nước Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay.
Trọng Giáp (Theo History.com)
***
Xem thêm :  


Khi nói hay nhắc đến nước Đức hoặc Đại Hàn, người Việt chúng ta thường nghĩ đến một quốc gia cũng chiến chinh và đặc biệt, cũng bị chia đôi như Việt Nam. Một bên là Cộng Hòa Liên Bang Đức (gọi nôm na là BRD hay Tây Đức) và Nam Hàn, nửa bên kia là DDR (Cộng Sản Đông Đức cũ) và Bắc Hàn. Trừ Đại Hàn vẫn còn bị chia đôi, hai quốc gia Việt Nam và Đức đều đã thống nhất đất nước, VN năm 1975 và Đức từ 1990.

Như chúng ta biết, Việt Nam sau khi Hiệp Định Gene được ký kết thì bị chia đôi từ 1954. Miền Nam theo chế độ Việt Nam Cộng Hòa do cố TT Ngô Đình Diệm lãnh đạo và miền Bắc thì theo chủ nghĩa Cộng Sản, với danh xưng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Hồ Chí Minh cầm đầu. Trong khi đó thì Đức bị chia đôi sớm hơn sau khi nhà độc tài Hitler bị các cường quốc đánh bại và do tứ cường Nga, Mỹ, Anh và Pháp kiểm soát. Dưới sự đòi hỏi và xếp đặt của Anh Pháp và Mỹ, Tây Đức hay Cộng Hòa Liên Bang Đức (BRD) được thành lập ngày 24.5.1949. Cuộc bầu cử quốc hội BRD lần đầu tiên được tổ chức vào ngày 14.8.1949. Ba đảng CDU, CSU và FDP liên minh thành lập chính phủ và Konrad Adenauer được bầu lên làm vị thủ tướng đầu tiên của Tây Đức ngày 15.09.1949. Nga cũng đâu vừa, sau đó thì vùng Nga chiếm đóng cũng cho thành lập một quốc gia theo chủ nghĩa Cộng Sản, DDR vào ngày 7.10.1949, rập khuôn theo đường lối của Nga sô, dưới sự lãnh đạo của Ulbricht, mãi tới năm 1971 mới bị Honecker thay thế cho đến khi Honecker từ chức, trước khi DDR bị sụp đổ. Mỗi nước đều có quốc kỳ và quốc ca riêng tương tự như hai nước Việt Nam trước 1975.

Cuộc chiến tranh lạnh giữa các cường quốc, một bên gồm Anh Pháp Mỹ và bên kia là Nga vốn đã có từ sau năm 1945 ảnh hưởng nhiều đến tình hình chính trị của BRD và DDR.
  
Nhằm bảo vệ chế độ chuyên chế vô sản và ngăn chận dân tìm cách trốn khỏi Đông Đức (DDR) để sang Tây Bá Linh hay Tây Đức, cộng sản Đông Đức, dưới sự điều hành và kiểm soát của cảnh sát và quân đội nhân dân, DDR đã cho xây bức tường ngăn cách hai bên Đông-Tây Bá Linh mà người Việt mình hay gọi là bức tường ô nhục vào năm 1963! Dầu vậy, vẫn có nhiều người dân DDR vì không chịu nổi sự kềm kẹp của cộng sản (cs) đã tìm cách vượt hàng rào kẻm gai, vượt qua bức tường ô nhục đi tìm tự do. Một số ít may mắn trốn thoát. Nhưng đa số bất hạnh bị bắt cầm tù hay bị bắn chết “giữa vùng đất cấm” giống như số phận những người Việt Nam từ Bắc, trước 1975 muốn tìm cách vượt qua vĩ tuyến 17 để vào Nam tìm tự do, trước khi Nam Việt Nam (NVN) chưa bị cộng sản cưỡng chiếm. 

Tuy nhiên, sau hơn 40 năm theo chủ nghĩa cộng sản, dưới sự chỉ đạo của đàn anh Nga sô, cộng sản (cs) Đông Đức, một thời đã được xem như là thiên đàng của các nước cộng sản vẫn bị sụp đổ! Điểm khác nhau rất đặc biệt là so với VN thì sự sụp đổ của cộng sản Đông Đức (DDR cũ) và từ đó đưa đến sự thống nhất nước Đức gần như không đổ máu! Ngược lại, ở VN, trong suốt 21 năm sau khi bị chia đôi cho đến khi thống nhất, miền Bắc luôn tìm cách xâm chiếm NVN bằng vũ lực do các đàn anh cộng sản Tàu, Nga và Đông Âu cung cấp, giúp đỡ gây nên cảnh huynh đệ tương tàn mà cs miền Bắc đã thành công, đưa đến sự thống nhất đất nước ngày 30.4.1975.

Nguyên nhân DDR sụp đổ, đưa dến sự thống nhất Đức

…. Trong mỗi chúng ta, hầu như ai cũng nghĩ rằng khi mà cộng sản đã ngự trị đâu đó rồi thì đừng mong gì đến chuyện lật đổ cs được! Nhưng trên đời này chẳng có gì là tuyệt đối cả nên thiên đàng cs Đức đã bị xóa tên, chuyện mà chẳng ai ngờ đến! Nguyên nhân là vì đàn anh Nga sô vĩ đại đã có ý định muốn cải tổ đường lối chính trị tại Nga vào giữa thập niên 90. Người đầu tiên có khuynh hướng này là ông Michail Gorbatschow, chủ tịch nhà nước kiêm Tổng bí thư đảng cs Nga. Vì muốn cứu vãn sự đổ vỡ của Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết nên Nga đã từ bỏ quyền thống trị cuả họ đối với các nước cs Đông Âu nằm dưới sự chỉ đạo của Nga thời bấy giờ. Và xa hơn nữa, Gorbatschow lại muốn thỏa hiệp, làm việc chung với các nước thuộc khối Tây Âu hơn xưa nay nên từ đó đã mở đường các phong trào dân chủ tại các nước Đông Âu ra mặt công khai hoạt động. Hung gia Lợi (Hungary) bắt đầu trước hết vào tháng 5.1989, tạo nên một lỗ hổng giữa những bức tường sắt. Ngày 30 tháng chín là ngày mà cách đây đúng 20 năm, cựu Bộ Trưởng Ngọai Giao Đức, Hans-Dietrich Genscher (FDP) đã tuyên bố từ ban công của Tòa Đại Sứ Đức tại Prag: ” Chúng tôi đã đến với quý vị, để nói với quý vị rằng hôm nay sự xuất hành …” (nguyên văn: “wir sind zu Ihnen gekommen, um Ihnen mitzuteilen, dass heute Ihre Ausreise …”). Phần còn lại của câu nói trên bị đắm chìm dưới sự vui mừng của 4 ngàn người tỵ nạn Đông Đức (DDR và sau đó họ đã được Tây Đức (BRD) nồng nhiệt đón nhận. Có thể nói đây là khởi điểm đưa đến sự sụp đỗ của chế độ cộng sản Đông Đức.

Vào tháng 11.1989, Hung đã hoàn toàn mở toạt ranh giới nước mình với các quốc gia Tây Âu và kể từ thời điểm này, hàng người dân Đông Đức đã đi qua cửa ngõ Hung Gia lợi, vượt biên sang Tây Đức tìm tự do.

Song song với làn sóng vượt biên tìm tự do từ DDR (Đông Đức) ngày càng lên cao, các phong trào dân chủ đối nghịch với chính quyền cs tại Đông Đức cũng lớn mạnh thêm. Dân DDR và những người đối kháng thuộc giới trí thức, văn nghệ sĩ v.v… đã mạnh dạn xuống đường và công khai lên tiếng đòi hỏi, đặt điều kiện với chính quyền cs đương nhiệm, điển hình là các cuộc biểu tình rầm rộ tại thành phố Leipzig vào dịp kỷ niệm 40 năm thành lập cs Đông Đức, ngày 07.10.1989, đã làm cho cs Đông Đức đại bại (Fiasko). Bên cạnh sự tổ chức kỷ niệm của chính quyền CS, nhiều cuộc biểu tình qui mô chống chính phủ đã xảy ra tại nhiều nơi ở DDR. Cấp lãnh đạo cs Đông Đức đâm ra bối rối, họ không còn kiểm soát nổi tình hình. Tổng bí thư Erich Hoecker đã phải từ chức vào ngày 18.10.1989, bắt đầu cho sự sụp đổ chế độ cs Đông Đức. Tổng bí thư kế vị, Egon Krenz không thể bình thường hóa lại được tình trạng xáo trộn ở DDR vì ảnh hưởng của nhà nước đối với quần chúng, những người từng bị kiềm kẹp trong suốt 40 qua, không còn nữa. Cuối cùng, toàn bộ chính trị đảng cs Đông Đức (SED) từ chức vào ngày 08.11.1989. Chiều ngày 09.11.89, bức tường ô nhục Đông Bá Linh bị phá, mở tung ra và chuyện nước Đức thống nhất kể từ thời điểm này không còn ai có thể ngăn cản nổi nữa! 

  
Ý định muốn thống nhất nhanh chóng của hai nước Đức đã được thể hiện qua kết quả cuộc bầu cử tự do bầu đại diện dân biểu nhà nước vào ngày 18.3.1990. Liên danh “Liên Minh cho nước Đức”, chủ trương muốn thống nhất với Cộng Hoà Liên Bang Đức, đã thắng cử một cách rõ ràng. Tân chính phủ của Đông Đức, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch nhà nước Lothar de Maiziere liền bắt tay ngay vào chuyện hội thảo liên quan đến việc thống nhất nước Đức. Ngày 19.5.1990, một hiệp ước về kinh tế, tiền tệ và xã hội được ký kết. Bởi vì hệ thống kinh tế Đông Đức (DDR) không cho phép cải đổi nên Đông Đức đành chấp nhận hệ thống kinh tế của Tây Đức (BRD) vào ngày 01.7.1990. Ít lâu sau, hai bên thương thảo với nhau về hiệp ước thống nhất tại Bá Linh. Trước khi chấm dứt thương lượng, Hội đồng nhà nước Đông Đức trong một phiên họp đặc biệt vào ngày 23.8.1990 đã biểu quyết chấp thuận cho Đông Đức gia nhập vào Geltungsbereich des Grundgesetzes (xin tạm dịch là Luật cơ bản có giá trị cho khu vực) vào ngày 03.10.1990, lý do là nếu không có sự đồng ý của tứ cường đang kiểm soát Tây Bá Linh lúc đó thì chuyện thống nhất nước Đức không thể nào thực hiện được.

Ngay sau khi chính đàn anh Nga Sô nhận thấy cũng không thể ngăn cản nổi sự thống nhất của 2 nước Đức DDR (Đông Đức) và BRD (Tây Đức) tứ cường Anh, Pháp, Nga và Mỹ (những quốc gia đã chiến thắng Đức trong đệ nhị thế chiến) đành phải chấp nhận giải pháp thống nhất hai nước Đức vào tháng 2.1990 sau một phiên họp với hai nước “BRD và DDR”, được gọi là phiên họp “2 cộng 4”. Những điều kiện để thống nhất được qui định trong hiệp ước vào ngày 12.09.1990 và từ thời điểm này, Đức được trao trả lại quyền tự trị!

Tại Bá Linh, đêm 03.10.1990, hàng ngàn người Đức đã xuống đường vui mừng sự thống nhất nước Đức, sau hơn 40 năm bị chia đôi. Ngày hôm sau, 663 đại biểu của Quốc Hội Tây Đức (BRD) và Hội Đồng nhà nước Đông Đức (DDR) họp chung tại nghị viện (Reichstag). Lần đầu tiên kể từ năm 1933, cuộc bầu cử đại diện chung cho toàn nước Đức tại Quốc hội xảy ra vào ngày 02.12.1990. Đảng CDU, dưới sự lãnh đạo của Helmut Kohl, lúc đó là Thủ Tướng cuả Tây Đức (BRD), đã thắng cử một cách rõ ràng và ngày 17.01.1991, Helmut Kohl (CDU) được bầu lên làm Thủ Tướng, vị Thủ Tướng đầu tiên của một nước Đức thống nhất, không Cộng Sản! 

Ảnh hưởng của sự thống nhất đối với Đức 

Vì quá vui mừng nước Đức bất ngờ được thống nhất nên Helmut Kohl và chính phủ do CDU cầm quyền lúc bấy giờ không nắm vững được những khó khăn do cs Đông Đức để lại sau hơn 40 năm áp đặt chế độ chuyên chính vô sản tại đây, nhất là trên bình diện kinh tế, nên Tây Đức đã thừa hưởng một gánh nợ không lồ do cs Đông Đức để lại vì vậy tình trạng kinh tế cuả Tây Đức, từ một cường quốc trên thế giới, đã xuống giốc một cách khủng khiếp vài năm sau đó. So với những quốc gia khác thuộc khối cs Đông Âu và đàn anh vĩ đại Nga Sô cũng theo chân Đông Đức bị sụp đổ sau đó thì người dân Đông Đức có phần may mắn hơn và nhờ vào sự tài trợ không ngừng của Tây Đức nên sau 19 năm thống nhất, đời sống cuả dân Đông Đức không còn chênh lệch với dân bên Tây Đức bao nhiêu. Tây Đức hàng năm đã đổ không biết bao nhiêu tỉ Đức Mã để giúp cho dân chúng thuộc vùng cộng sản cũ, trên nhiều phương diện: từ việc kỷ nghệ hóa các hãng xưởng, sửa chữa và xây cất nhà cửa, đường xá, cầu cống v.v.. Ngoài ra, để cải tiến đời sống nghèo khổ bên phía Đông, chính quyền Helmut Kohl trước đây vì cần tài chánh nên phải sử dụng các biện pháp như tăng thuế, công nhân viên Tây Đức phải xuất lương hầu giúp đỡ đồng hương (solidarity contribution) bên Đông Đức. Một điểm khác rất cách biệt so với VN dựa theo các tài liệu tôi đọc được cũng như do thân nhân kể lại là VN đổi tiền năm ba bận nhằm bần cùng hóa thành phần tư bản và tiểu tư sản mà họ nghĩ rằng còn giấu đâu đó chưa kiểm soát được thì Tây Đức trái lại, ngay sau khi thống nhất họ đã ban lệnh đổi tiền DDR, một đồng tiền thời đó không có giá trị gì nhiều so với đồng Đức Mã với tỉ lệ 1:1, giúp cho dân DDR, không phân biệt họ là đảng viên, con ông cháu cha hay dân thường gì cả bỗng tự nhiên có tài sản, rồi sau đó dân DDR với số tiền “trời cho” lại còn xây nhà hay mua xe đôi khi còn ngon lành hơn những người dân bên phía Tây. 

Trong khi dân miền Nam VN thì bị đánh thuế tư sản mại bản làm nhiều gia đình mất hết cả tài sản thì ngược lại ở Đức, dân DDR được ưu đãi hầu hết trên mọi phương diện làm cho dân chúng vùng cs cũ hứng chí làm ăn nên nền kinh tế sau thời DDR mới từ từ khá lên. Đó là chưa nói đến chuyện dân Tây Đức đặc biệt không mang hận, trả thù dân Đông Đức sau khi thống nhất. Dựa theo nhiều tài liệu của Đức và các phóng viên báo chí từ các nước Âu Mỹ, Đức không trả thù dân cùng chủng tộc! Cũng có vài vụ kiện tụng xử các đảng viên bắn chết hay bắn người bị thương khi dân DDR tìm cách vượt bức tường ô nhục để sang Tây Bá Linh tìm tự do nhưng bất cứ vụ kiện nào cũng có luật sư bào chữa. Lý do rất dễ hiểu, luật pháp Đức rất coi trọng quyền làm người. Hiến Pháp Đức đã qui định một cách rõ ràng: “Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm”. Vì thế không có chuyện đem hàng loạt đảng viên hay quân cán chính thời DDR cho đi học tập cải tạo hay tống giam, tẩy não (ngoại trừ thời Đức quốc Xã). Ngay cả Tổng bí thư cuối cùng của DDR, ông Egon Krenz cũng bị đưa ra tòa và chỉ bị phạt tù và nay đã được khoan hồng trả tự do. Không những thế chính những tay trùm mật vụ DDR, từng sát hại bao nhiêu dân DDR vô tội cũng bị đưa ra tòa án xét xử một cách công khai, có luật sư biện hộ. Ngay cả những đảng viên hay các chính trị gia gộc thời DDR giờ cũng thoải mái tham chính như Gysi hay Bisky v.v… chẳng hạn. Đó, sự khác biệt giữa DDR và Việt Nam sau khi thống nhất nôm na như vậy đó! Chưa kể đến chuyện đảng PDS, hậu thân của đảng cộng sản Đông Đức cũng được tự nhiên hoạt động trên chính trường Đức không gặp một khó khăn nào, họ hiện đã và đang ngồi tại Quốc Hội hay nghị viện Đức với những chức vụ Nghị sĩ mà chẳng bị chính phủ Đức làm khó dễ. Tại những nước CS thuộc khối Đông Âu cũ như Ba Lan, Tiệp, Hung gia Lợi, Ru Ma Ni v.v… cũng không có xảy ra những vụ tống giam rầm rộ hay trả thù những đảng viên, cảnh sát, quân đội và tay sai của chính quyền CS cũ, ngoài những vụ xử án lẻ tẻ. Những người cộng sản ngày xưa họ vẫn được lập hội lập đảng ra tranh cử với những đảng phái dân chủ đối lập một cách tự nhiên. Thậm chí họ được quyền tiếp tục tuyên truyền chủ thuyết cộng sản vốn đã lỗi thời và ai còn nghe theo đó là chuyện riêng của người đó, dựa trên tinh thần tự do tư tưởng và dân chủ mà họ phải chấp nhận vì nhân dân muốn thế. Nói chung, người dân các quốc gia này, dân DDR cũ chỉ muốn có một đời sống ấm no, bình đẳng như nhau, có đầy đủ các quyền tự do, được sống an lành không còn bị kìm kẹp hay muốn đi đâu thì đi không phải lo sợ bị theo dõi, ai làm nấy ăn v.v… Khi nào thì giới lãnh đạo VN chúng ta mới nhìn ra được cội rể của vấn đề để tạo cho dân Miền Nam nói riêng và dân VN nói chung có được một cơ hội tương tự như Tây Đức (BRD) đã thực hiện cho dân Đức ở DDR?

Người viết xin được mở ngoặc thêm ở đây, đề cập sơ đến vài dữ kiện xảy ra tại Đức đối với đảng cộng sản DDR cũ đang hoạt động tại Đức để quí độc giả nhìn rõ vấn đề hầu từ đó có thể so sánh một cách khách quan sự khác biệt giữa Đức (một nước dân chủ) và CSVN trên phương diện đối xử với kẻ chiến bại, sau khi thống nhất đất nước.


Như chúng tôi đã trình bày ở trên, khác với CSVN đã tìm cách đưa đi cải tạo hay quản chế quân cán chính liên hệ với chính quyền VNCH cũng như cấm lập hội, lập đảng sau 30.4.1975, đa số cựu đảng viên cs của DDR và những người còn luyến tiếc chủ thuyết xã hội chủ nghĩa đã „lấy rượu cũ đổ vào bình mới“ thay đổi danh xưng đảng SED (đảng cs Đông Đức cũ) thành PDS và ra tranh cử với các đảng phái dân chủ khác của Đức sau đó. Họ đạt được số phiếu ủng hộ ấn định trong các cuộc bầu cử nghị viện và quốc hội Đức nên đã tham chính và vẫn đóng vai trò đại diện cho dân, hay nói rõ ra cho những người cùng có lập trường và quan điểm chính trị giống họ là „chưa chịu khai tử chủ thuyết xã hội chủ nghĩa“. Tuy nhiên sau thời gian nhiều năm, cấp lãnh đạo đảng PDS nhìn ra được vấn đề là PDS không hấp dẫn được dân chúng phía Tây, những người vốn đã hiểu quá rõ thực chất cộng sản cũng như chân giá trị của sự Tự Do Dân Chủ nên không bị ru ngủ, mặc dầu PDS tuyên truyền rùm ben nên vì thế ban lãnh đạo PDS cuối cùng phải nhóm họp quyết định thay đổi và „định nghĩa lại đường lối chính trị“ của đảng PDS, đó là chưa nói đến sự tranh chấp nội bộ trong đảng PDS làm cho những người vốn có cảm tình với CS không ủng hộ họ nữa và đã đưa đến sự thất cử quốc hội vào năm 2002.
Liên quan đến sự cải tổ đường lối đảng, bà Zimmer, khi còn làm đảng trưởng PDS (hậu thân đảng cộng sản Đông Đức cũ), trong một cuộc họp với các tỉnh bộ trưởng phía đông đã tuyên bố sự ước mong của bà là muốn PDS bắt đầu trở lại với một đường lối chính trị mới, một nội dung và văn hóa mới!

Chưa hết, hãy nghe cựu chủ tịch đảng PDS than phiền. Gregor Gysi (một luật sư thời DDR, đương kim Thượng nghị Sĩ tại quốc hội Đức) đã lên tiếng cho biết là công cuộc xây dựng, phát triển đảng PDS tại Tây Đức hoàn toàn thất bại. Gysi nói qua nhật báo Tagesspiegel (Daily Mirror) là ông ta „không còn mang ảo tưởng nữa, trong tương lai gần đây đảng PDS sẽ chẳng còn có một ý nghĩa nào ở phiá Tây“. Vì thế theo Gysi, ảnh hưởng của PDS tại Tây Đức giống như là một đảng ngoại quốc mà thôi! PDS luôn sẳn sàng mở cửa đó nhận những chính trị gia tên tuổi như Oskar Lafontaine, Ottmar Schreiner của đảng SPD (hai người này thuộc cánh tả SPD!) hay cũng dành cho những thành phần khuynh tả nhưng đối với thành phần khuynh tả này thì PDS lại có một sự dè dặt. Qua đó người Việt chúng ta nói riêng, nhất là thành phần ba phải hay những kẻ thời cơ chính trị vì háo danh hay ham lợi (bài học để đời của Trịnh vĩnh Bình và Trần Trường gần đây còn đó nhưng chẳng hiểu tại sao có kẻ vẫn lờ đi?) đang đón gió trở cờ, có thể hiểu thêm chủ trương và bản chất của người cs, dầu cs Việt, Tàu hay cộng sản Đức v.v…đều giống nhau, bất di bất dịch là „hồng vẫn hơn chuyên“! 

Xa hơn nữa, cũng chính vì sự thất bại của PDS mà cựu Thượng nghị Sĩ (TNS) Angelika Marquardt đã rời bỏ đảng PDS. Qua tờ báo Maerkische Zeitung, ấn hành tại Postdam, Marquardt. 31 tuổi, cho biết là kể từ tháng 11.2002 trở đi, bà ta đã không đóng niên liễm cho đảng của mình nữa. Marquardt còn nói thêm, rõ ràng hơn, theo tôi: „Trên phương diện chính trị, đồ án PDS đã thất bại “! Marquardt, xuất thân từ Mecklenburg-Vorpommern, gia nhập đảng PDS từ 1990, đã từng giữ chức vụ phó chủ tịch đảng PDS vào những năm 1995-1997 và là TNS Đức từ 1998 cho đến khi bầu cử Quốc Hội Đức vào tháng 9.2002.


Và cuối cùng, PDS (hậu thân đảng cộng sản Đông Đức cũ) đã định nghĩa lại chủ nghĩa „Dân Chủ Xã Hội“ đảng và tách biệt không còn chỉ trích nặng nề „chủ nghĩa tư bản“ nữa! Mặc dù những đảng viên của PDS thuộc cánh tả trong bản phác thảo về chương trình căn bản trước sau đã nhấn mạnh là „PDS vẫn chống lại sự thống trị về chính trị và kinh tế qua sự chiếm ưu thế của chủ nghĩa tư bản“ nhưng họ cũng đã phải công nhận rằng giới „kinh doanh và sự thích thú có đựơc lợi nhuận“ vẫn là những điều kiện quan trọng đem lại những sự đổi mới và hậu quả tốt về phương diện kinh tế. Nữ đảng trưởng PDS, Gabi Zimmer đã đánh dấu chương trình phác thảo mới nói trên là một cơ hội để PDS có thể vượt qua cơn khủng hoảng hiện tại. Trong một đại hội của PDS, Zimmer đã nói trước gần 300 đại biểu rằng: „đảng PDS chỉ có một tương lai nếu PDS trong tương lai cũng cùng muốn xây dựng xã hội“. Bản phác thảo nói trên được biên soạn từ hai năm nay và sẽ được thảo luận rốt ráo trong nội đảng trước khi cho thông qua trong kỳ đại hội đảng vào tháng 10.2003. 

Từ đó chúng ta có thể nhìn ra được một điều rằng đảng PDS (hậu thân cs Đức, dưới thời đại DDR là đàn anh của CSVN) ít ra cũng đã nhìn thấy được nguyên nhân đưa đến thất bại cho PDS trên chính trường Đức nói riêng. Có thể nói họ hơn CSVN trên phương diện này. Trong khi CSVN tuy nói là cải tổ nhưng có lẽ chỉ muốn nhất thời làm êm dịu sự bất bình của quần chúng hầu duy trì địa vị độc tôn, độc đảng của họ thì ngược lại, sự cải đổi của PDS dựa theo nhu cầu và sự đòi hỏi của dân Đức để sống còn, vì sau khi thiên đàng cộng sản DDR sụp đổ và kế tiếp là sự khai tử toàn bộ khối cs Đông Âu, chuyện PDS trở thành đảng lớn và mạnh nhất tại một quốc gia có trình độ dân trí cao và rất tự do dân chủ như Đức chỉ là ảo tưởng. Kinh nghiệm trong quá khứ đã cho thấy, dưới một thể chế tự do dân chủ thật sự và đa đảng như Đức, nếu đảng nào không đáp ứng được sự mong đợi của người dân thì trong lần bầu cử tới họ sẽ không nhận được lá phiếu của cử tri, điển hình là trong kỳ quốc hội 2002 đảng PDS đã bị loại và trong lần bầu nghị viện tại Bá Linh hôm 17.09.2006, PDS mất đi hơn 10% số phiếu ủng hộ và tại tiểu bang Mecklenburg-Vorpommern, đảng Dân Chủ Xã Hội Đức (SPD) đang cầm quyền tại đây cũng không tránh khỏi tình trạng này! 
Trở lại với chủ đề bài viết. 


…. Trong suốt thời gian qua mặc dầu Tây Đức đã cố gắng đổ biết bao nhiêu tiền của và công sức nhằm mục đích nâng cao đời sống, nền kỷ nghệ và kinh tế DDR nhưng cho đến nay chính quyền Đức nói chung đã không đủ sức và khả năng để san bằng lỗ hổng khổng lồ về tài chánh và kinh tế do cs Đông Đức để lại sau 40 năm thống trị trong một khoảng thời gian 19 năm sau khi nước Đức thống nhất được, kể từ ngày 03.10.1990! Nhìn người lại nghĩ đến ta. Việt Nam kể từ khi cưỡng chiếm xong NVN đưa đến sự thống nhất ngày 30 tháng 4.1975, thời gian lâu gấp đôi so với Đức nhưng VN nói chung vẫn còn èo uột, chưa khả quan mấy trên tất cả mọi phương diện: kinh tế, tự do, nhân quyền v.v…. Nếu không có nguồn tài lực do những người tị nạn CS và số người VN được nhà nước cho phép xuất khẩu lao động từ hải ngoại gởi về không hiểu tình trạng kinh tế VN còn đi tới đâu? Những người có trách nhiệm đối với dân chúng VN hãy can đảm, bình tâm nhìn sang DDR, khối Đông Âu và khối Liên Hiệp Nga cũ thì rõ. Dân DDR nói riêng đâu ai bỏ quê hương xứ sở đi lánh nạn tránh Tây Đức?. Họ cũng đâu có rời bỏ DDR như VN đã làm chấn động thế giới với hàng triệu người bất kể hiểm nguy tìm đường vượt biên vượt biển đi tìm tự do! Họ an tâm ở lại quê hương xứ sở của họ. Một khi mà người dân được quyền tự do kinh doanh, tự do ngôn luận, tự do học hành và phát triển… nói chung có đời sống hoàn toàn tự do dân chủ thì họ mới có hứng thú làm việc và mới đóng góp tích cực vào sự phồn thịnh và phát triển quốc gia được. Ngược lại, nếu làm mà chẳng được gì hết thì họ sẽ thụ động là chuyện rất dễ hiểu và đây là lý do DDR và Tây Đức khác biệt nhau một trời một vực trên tất cả mọi phương diện.


Tôi còn nhớ có lần tình cờ được nói chuyện với một gia đình đến từ Đông Bá Linh vào cuối thập niên 70, họ đã nói với tôi: “Như ông thấy đó qua Ti Vi và báo chí, hiện tại khắp nơi ở DDR đâu đâu cũng treo cờ đỏ có búa liềm, ngay cả tại những nhà ga U-Bahn nhưng… nếu ngày mai họ có cơ hội hay có thể treo cờ Xanh thì ông sẽ thấy ngay mọi nơi đều treo cờ Xanh”. Lúc đó tôi hoài nghi vì mấy ai ngờ nhưng 20 năm sau tôi mới nghiệm lại và thấy lời nói của gia đình kia hoàn toàn đúng. Dân DDR đã từ bỏ thiên đàng xã hội chủ nghĩa, đã vứt bỏ và đốt cờ Cộng Sản trong chốc lát và đã đạp đổ bức tường ô nhục chỉ vì họ muốn nhìn thấy ánh sáng tự do, chỉ vì trong tiềm thức của họ từ lâu rồi muốn được sống thoải mái không bị kìm kẹp, muốn đi đâu chẳng ai cấm hay dò xét dưới một xã hội dân chủ thật sự! Một sự ao ước thầm kín nhưng chỉ chưa bộc phát ra thôi. Khi những yếu tố khách quan cho phép, họ không chần chờ, nắm lấy ngay thời cơ và làm sụp đổ cái thiên đàng xã hội chủ nghĩa DDR vốn đã được những đàn em CS không ngớt lời ca tụng trong một khoảng thời gian rất ngắn.

Qua đó chúng ta rút tỉa được kinh nghiệm nào và học hỏi được những gì? 

Trước hết, chúng tôi trộm nghĩ, những gì mà một cá nhân, một tổ chức không hay chưa làm được, chúng ta có thể làm được nếu biết hợp quần gây sức mạnh, điển hình như ở Ba Lan, DDR, khối Đông Âu cũ … Nhiều nước độc tài đảng trị tại Đông Âu đã bị lật đổ qua sự chống đối của người dân dưới sự điều hợp cuả những nhà chính trị đối kháng và gần đây nhất, ở Ulkrain, dầu được Nga hết lòng ủng hộ nhưng phải nhượng bộ khối đối lập tổ chức bầu cử lại và cuối cùng chính quyền thân Nga bị khối đối lập hất văng đi và tại Libanon, nguyên cả một chính quyền từng có khuynh hướng theo nước Xy Ri (Syria) đã phải từ nhiệm sau nhiều cuộc biểu tình chống đối chính quyền rất rầm rộ, không ngừng nghỉ cuả dân chúng. Lý do Trung Cộng đã phải tìm cách sa thải người tay chân của mình đang cầm quyền ở Hồng Kông cũng bắt đầu từ sự chống đối của người dân. Bằng từng đó thí dụ cũng đủ thấy tầm quan trọng của sức mạnh quần chúng, của sự đoàn kết, chìa khoá đưa đến thắng lợi. Các nước độc tài còn lại trước sau rồi cũng có ngày sẽ bị đào thải khi dân chúng đang bị kìm kẹp đồng loạt đứng dậy, vấn đề chỉ là thời gian mà thôi như đã xảy ra trong quá khứ ở Chí Lợi hay tại Á Châu, Phi Luật Tân và tại Đông Âu nói chung, DDR nói riêng vào cuối thập niên 80 như chúng ta biết. Tình hình VN đang có vài thay đổi. Hiện tại người dân, tuy chưa được hệ thống hoá nhưng vì bất bình nên từ từ đứng lên đòi quyền sống và đặc biệt qua những cuộc đình công đã làm cho CSVN bối rối. Thêm vào đó, bên cạnh các vị lãnh đạo các tôn giáo Hoà Hảo, Cao Đài, Tin Lành, Thiên Chúa Giáo và GHPGTNVN cũng như Phong trào dân chủ của Bs Nguyễn Đan Quế …. từ bấy lâu nay đã mạnh dạn trong vai trò đối lập đòi hỏi chính phủ và đảng CSVN phải tôn trọng nhân quyền, tự do tôn giáo v.v… ra, hiện nay có nhiều phong trào dân chủ khác và nhiều nhà đấu tranh dân chủ mới, trẻ có học thức không còn sợ sệt đã xuất đầu lộ diện công khai tại quốc nội, ra mặt chống đối nhà nước điển hình nhất là nữ luật sư Lê Thị Công Nhân và nhiều người khác …, vì thế CSVN đang tìm cách đàn áp và đây có thể là nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của CSVN, bởi lẽ dễ hiểu, khi sức ép đè nặng lên người dân thì sức bật từ đó càng mạnh.
Ngoài ra, CSVN phải có can đảm nhìn thấy sự thất bại của „chủ thuyết cọng sản“ và hãy cải tổ đường lối chính trị tại VN „dựa theo nhu cầu và đòi hỏi của người dân“ như các chính trị gia của PDS đang cố gắng thực hiện hầu lấy lại sự tin tưởng của dân Đức, nhất là của dân vùng DDR nếu PDS muốn tồn tại, không bị lu mờ từ từ theo dòng thời gian và cuối cùng sẽ bị khai tử. Người dân DDR trước đây bị đóng khung bởi bức tường ô nhục nên không nhìn thấy rõ thế giới tự do bên ngoài, giống như CSVN đã bịt mắt dân miền Bắc bên kia vĩ tuyến 17 trước 1975. Nhưng sau khi Đức thống nhất, dân Đông Đức được tự do đi lại, đi du lịch nhiều quốc gia Âu Mỹ nên họ đã nhìn thấy rõ đâu là sự khác biệt giữa tự do, dân chủ và độc tài đảng trị, vì thế PDS không thể nào đem trò mỵ dân ra làm phương tiện hầu đạt được cứu cánh nữa và rốt cuộc phải hạ mình, dù muốn dù không phải chấp nhận „ý dân là ý trời“. PDS nhìn ra được vấn đề nên thức thời và sau này, ngày 15-06-2007 đã thống hợp với WASG (đảng do nhóm ly khai từ SPD lập ra) thành một đảng mới lấy tên là Tả Khuynh (die Linke). Dứơi sự lãnh đạo của Gysi và Lafontaine (cựu thống đốc tiểu bang Saarland, cựu đảng trưởng SPD) đảng Linke từ từ lấy lại uy tín của dân chúng Đức nên trong 3 cuộc bầu cử tiểu bang hôm 30-08-2009 đều đắc cử vào nghị viện. Đặc biệt trong kỳ bầu cử Hạ Viện hôm 27-09-2009 vừa qua, Tả Khuynh chiếm đến 12,6%, cao hơn cả đảng xanh, đứng hạng tư trong 5 đảng tham chính tại Quốc Hội Đức nhiệm kỳ 4 năm tới, đến 2013. Tương tự, nếu không thay đổi có lẽ CSVN chắc chắn sẽ gặp trở ngại trong tương lai vì không nhiều thì ít, những người do cs xuất khẩu lao động hay những thành phần con ông cháu cha được cộng sản VN cho đi du học v.v… thế nào cũng hấp thụ được sự tự do dân chủ của nước ngoài và biết đâu trong tương lai sẽ ảnh hưởng phần nào đến tình hình chính trị tại VN theo kiểu „gậy ông đập lưng ông“, có thể không tích cực cho lắm trên phương diện góp gió để đẩy mạnh ngọn lửa dân chủ tại VN nhưng (hy vọng) bằng một hình thức thụ động sẽ làm cho đảng CSVN sớm muộn cũng theo các đàn anh vẩy tay chào cái chủ thuyết „xã hội chủ nghĩa“ mà DDR, Nga hay khối Đông Âu cũ đã quăng nó vào thùng rác cách đây 19 năm về trước.

Hy vọng ngày ấy sẽ chẳng còn bao xa nữa đối với những nước còn độc tài đảng trị để dân chúng những quốc gia này sớm được có một cuộc sống đầy đủ nhân quyền, tự do và dân chủ như ở Đông Âu và DDR.




Mong lắm thay!




Lê Hoàng Thanh (Đức, ngày 03 tháng 10 )