Từ những câu chuyện thành công nghĩ về việc dạy và học

IMG_4084.JPGđược vài mẩu chuyện thú vị, rồi từ đấy nghĩ về việc học thêm dạy thêm va thi cử ở Việt Nam.

Những câu chuyện về thành công

Xin được bắt đầu câu chuyện từ Bill Gates. Ông đã đạt được những thành tựu hiếm có trong thời đại chúng ta. Điều này khỏi phải bàn. Nhưng tại sao lại là Bill Gates mà không phải người khác? Vì ông đã làm một khối lượng công việc khủng khiếp. Vì ông rất thông minh. Chắc chắn rồi. Nhưng nhiều người khác cũng làm việc rất chăm chỉ, đâu phải chỉ một mình Gates. Và ai có thể khẳng định rằng Bill Gates ở tuổi thiếu niên thông minh hơn một học sinh khác? Tại sao lại là Gates? Trong Outliers – Câu chuyện về thành công Malcolm Gladwell đã viết về Bill Gates thế này:

Bill Gates sinh trưởng trong một gia đình sung túc ở Seattle, bang Washington. Cha của ông là một luật sư giàu có còn mẹ ông là con gái của một chủ ngân hàng. Từ nhỏ Bill Gates đã không mấy hứng thú với việc học ở trường, vì thế, năm Gates học lớp bảy, cha mẹ ông đã gửi ông đến Lakeside, một trường tư dành cho những gia đình danh giá. Trong thời gian đó, lần đầu tiên nhà trường khai trương một phòng máy tính. “Đó là một điều ngoài sức tưởng tượng”, Bill Gates nhớ lại. Tất nhiên là “ngoài sức tưởng tượng”, bởi vì đó là vào năm 1968, thưở bình minh của máy tính. Đa số các trường đại học ở Mỹ chưa có phòng máy. Không chỉ có vậy, máy tính của Lakeside là loại máy tân tiến vào thời điểm đó, máy ASR-33. Ý tưởng chế tạo những chiếc máy kiểu này mới xuất hiện vào năm 1965, tức là ba năm trước đó. Và thế là, ngay từ năm lớp tám, Bill Gates đã có cơ hội lập trình trên những chiếc máy tính hiện đại nhất vào lúc đó. Tất nhiên, thời gian sử dụng máy tính bị giới hạn. Cùng lúc ấy, ở trường đại học Washington (University of Washington-UW), một trường đại học trong vùng, mở một trung tâm tin học và cho thuê máy tính. Monique Rona, một trong những người sáng lập ra trung tâm này có con học ở Lakeside. Bà muốn một số người tình nguyện test phần mềm cho hệ thống máy tính của UW, đổi lại, người test sẽ được dùng máy tính ở UW miễn phí. Đúng là một cơ hội trời cho với một học sinh cấp hai như Bill Gates, một cơ hội mà rất ít người trên thế giới vào thời điểm ấy có được. Từ đó trở đi, Gates sống cùng với những chiếc máy tính (1).

Câu chuyện thứ hai

Ở Canada, khúc côn cầu là môn thể thao vua. Hàng năm, các chuyên gia tìm kiếm tài năng thường đi săn lùng những cầu thủ tiềm năng trong độ tuổi mười một, mười hai để làm hạt giống cho giải vô địch quốc gia. Khi nhìn vào danh sách những cầu thủ xuất sắc nhất, người ta nhận ra là đa số họ sinh vào đầu năm, khoảng từ tháng một đến tháng ba. Lời giải thích cho hiện tượng này chẳng liên quan gì đến các cung hoàng đạo. Đơn giản là vì mỗi lứa tuyển sinh đều có giới hạn về ngày sinh là ngày ba mươi mốt tháng mười hai của một năm. Vì vậy, các cháu sinh đầu năm phải chờ đến mùa tuyển sinh năm sau. Có thể nhận thấy là, với cách tuyển sinh này, các cháu sinh đầu năm luôn già nhất, phát triển nhất cả về thể chất lẫn tâm lý với các bạn cùng khoá, và đương nhiên, tiếp thu tốt hơn các bạn sinh vào cuối năm. Vậy là, cách tuyển sinh như thế vô tình trao cơ hội cho các cháu sinh đầu năm để trở thành những cầu thủ lớn sau này (2).

Từ hai câu chuyện trên, mình thấy được là những người thành công phần lớn là do có môi trường tốt, được trao cơ hội để chứng minh bản thân mình. Ngô Bảo Châu là một nhà toán học lớn, nhưng ai dám khẳng định ông sẽ làm được những việc mà ông đã làm nếu như không được đi Pháp, Mỹ, được làm việc với những giáo sư giỏi, có môi trường làm việc khuyến khích phát triển. Hoặc như một người nông dân ở Tây Ninh, bác Trần Quốc Hải, có thể chế tạo được xe bọc thép nếu như vẫn đang chờ giấy phép ở nước mình? Có khi lúc đó bác vẫn chỉ ngày ngày cặm cụi rồi dần dần chìm vào quên lãng thôi.

Việc dạy và học thêm

Quay trở lại Bronx, một khu nghèo ở thành phố New York. Marita, một cô bé mười hai tuổi, đang sống cùng với người mẹ đơn thân và chưa bao giờ vao đại học của em trong một căn hộ ở đó. Với một hoàn cảnh như vậy, ít người kỳ vọng Marita sẽ vào đại học. Tuy nhiên có một điều đặc biệt nho nhỏ. Em đang theo học chương trình KIPP – Knowledge Is Power Program, một chương trình khuyến khích người học có ở khắp nước Mỹ. Hãy nghe em kể về lịch làm việc một ngày của mình:

Em dậy lúc sáu giờ kém mười lăm, làm vệ sinh cá nhân, ăn sáng và đi bus đi học. Lớp học bắt đầu lúc bảy giờ hai lăm. Thật ra bạn bè em ai cũng dậy vào giờ đó, có người còn dậy vào bốn giờ sáng để học bài trước khi đi học. Em học liên tục từ sáng đến chiều và rời trường lúc năm giờ chiều. Về đến nhà, em bắt đầu làm bài tập, nghỉ giải lao ba mươi phút để ăn tối và lại tiếp tục làm bài. Mọi việc kết thúc lúc mười rưỡi; em và mẹ em trao đổi với nhau một chút rồi em đi ngủ. Ngày hôm sau mọi việc diễn ra y như vậy. Nhờ được tạo điều kiện học tập, Marita hơn hẳn các bạn trong cùng một khu phố, những người không tham gia chương trình. Mô hình này đang được nhân rộng ra ở nước Mỹ như là một giải pháp vực dậy cho chất lượng học tập của trẻ em ở những khu nghèo. Lưu ý là triết lý giáo dục phổ thông ở Mỹ là chơi nhiều hơn học và trẻ con thường không phải làm bài tập về nhà (3).

Đọc đến đây bạn có thấy thời gian biểu của Marita giống với một học sinh cấp hai ở Việt Nam không? Các em cũng phải dậy sớm ăn sáng, học chính, học thêm cả ngày và tối về nhà làm bài tập. Có điều, ở nước ta đang ra sức lên án còn ở Mỹ đang khuyến khích đưa vào áp dụng. Học sinh Việt Nam trước đến giờ ra nước ngoài luôn có một lợi thế không nhỏ ở các môn khoa học tự nhiên chính là nhờ chính sách học thúc ép như vậy. Mình nghĩ rằng, tự bản thân việc dạy thêm học thêm không có tội. Trái lại, học thêm là cơ hội để phát triển. Tội chẳng qua là ở thái độ quan trọng hoá của người ta đối với nó thôi. Không có luyện tập căng thẳng, không có “cày” thì làm sao cho ra lò những học sinh có năng lực?

Lại có ý kiến cho rằng nên cấm học thêm, vì như thế là không công bằng. Thế nào mới là công bằng? Chẳng nhẽ bắt tất cả mọi người học cùng một giáo trình, luyện tập cùng một thời lượng ròi đi thi cùng một bài mới là công bằng? Không, đấy là cao bằng chứ không phải công bằng. Thay vì khuyến khích người nào học được cứ học, làm được cứ làm thì ta lại cấm không cho ai làm nữa. Thay vì để cho mọi người có cơ hội để phát triển tự do thì ta lại kéo tất cả xuống thấp để mọi người bằng nhau. Như vậy có đúng không? Mà nữa, việc cấm chẳng qua là giải pháp cuối cùng, vì không thể kiểm soát, điều tiết nổi nên cực chẳng đã mới phải cấm.

Những kỳ thi học sinh giỏi

Ở Việt Nam có nhiều người đặt ra câu hỏi về sự cần thiết của những kỳ thi học sinh giỏi, từ cấp quận đến quốc tế. Nhiều người cho rằng thi học sinh giỏi là vô bổ. Các tập đoàn về công nghệ thông tin lớn trên thế giới hằng năm vẫn tổ chức những cuộc thi lập trình cho mọi lứa tuối, để rồi từ đấy tuyển được nhũng những nhân viên có năng lực. Những cuộc thi này hình thức như thế nào? Thật ra, nó chẳng khác mấy những kỳ thi học sinh giỏi Tin học ở Việt Nam, đó là giải một số bài toán trong một khoảng thời gian qui định. Suy rộng ra, nó cũng giống hệt với mọi kỳ thi học sinh giỏi ở Việt Nam. Lại một lần nữa, việc loại bỏ các kỳ thi học sinh giỏi ở Việt Nam, chỉ giữ lại ở lớp chín và mười hai lại cho thấy chúng ta làm ngược lại với Mỹ. Các kỳ thi học sinh giỏi là những cơ hội tuyệt vời để những người có năng lực được học sâu hơn, được tiếp cận với những kiến thức cao hơn, được nghe từ những thày giỏi. Trong những người đạt được giải cao trong những kỳ thi ấy, nhiều người vươn lên đỉnh cao của tri thức, như giáo sư Ngô Bảo Châu. Mình muốn nói là, các kỳ thi không hề có tội mà chẳng qua là tâm lý đặt nặng thành tích của người tổ chức cũng như người thi mà thôi. Nếu bây giờ cứ tổ chức thi học sinh giỏi, đồng thời coi nó là những việc bình thường, gạt bỏ đi tâm lý thích thành tích thì tốt hơn nhiều so với lên án và cấm thi.

Kết

Thành công xuất phát từ cơ hội. Chuyện về Bill Gates, chuyện về giải khúc côn cầu ở Canada, về giáo sư Châu hay bác nông dân Trần Quốc Hải là những minh chứng. Ở Việt Nam mình, người tài không thiếu, chỉ thiếu cơ hội. Nếu những người làm giáo dục có thể cởi mở hơn để người học có nhiều cơ hội được học thêm, tạo ra sân chơi để người có năng lực thể hiện mình, đồng thời làm cho mọi người hiểu rằng, những kỳ thi ấy, cuối cùng cũng chỉ là những kỳ thi thôi, và cuộc sống này còn nhiều màu sắc hơn như thế, thì hay biết mấy.


(1), (2), (3) Những câu chuyện này được mượn từ quyển Outliers – The Story of Success của Malcolm Gladwell