VĂN THƯ GỬI TỔNG THỐNG PHI LUẬT TÂN BENIGNO AQUINO

  

ĐÔNG HÒA PHI MÃ

VĂN THƯ GỬI TỔNG THỐNG PHI LUẬT TÂN BENIGNO AQUINO

Ngày 14-7-1995, nhân kỳ Đại Hội ASEAN tại Brunei, nhân danh Hội Luật Gia

Việt Nam tại California, người viết đã gửi văn thư đến 7 vị nguyên thủ quốc gia trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á là Phi Luật Tân,, Mã Lai, Brunei, Nam Dương,

Tân Gia Ba, Thái Lan và Việt Nam. Để trình bầy vấn đề giải quyết các vụ tranh chấp tại Biển Đông Nam Á theo những quy luật dự liệu trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982.

Theo các cơ quan truyền thông quốc tế, văn thư này đưa ra giải pháp cho vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bằng cách dùng phương thức Thương Nghị để đi đến Hòa Bình. (The Discussion Proceeds for Peace: Asian Wall Street Journal, July 1995).

Ngày 31-5-2012, nhân vụ tranh chấp giữa Phi Luật Tân và Trung Quốc tại Scarborough Shoal, thay mặt Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền, người viết đã gửi văn thư đến Tổng Thống Phi Luật Tân Benigno Aquino để trình bầy về những khía cạnh pháp lý liên quan đến vụ Bãi Cạn Scarborough cũng như toàn vùng Biển Đông Nam Á nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau đây là nguyên văn bức thư nói trên:

Kính thưa Tổng Thống,

Ngày 14-7-1995, nhân danh Hội Luật Gia Việt Nam tại California, chúng tôi đã gửi văn thư đến Tổng Thống Fidel Ramos để yêu cầu đưa vụ tranh chấp tại Biển Đông Nam Á ra trước Tòa Án Quốc Tế Về Luật Biển. Ngày nay, với vụ tranh chấp Bãi Cạn Scarborough tọa lạc tại Vùng Đặc Quyền Kinh Tế và

Thềm Lục Địa Phi Luật Tân, chúng tôi xin trình bầy với Tổng Thống vấn đề liên quan đến các hải đảo và vùng biển Trường Sa.

Tháng 4-1956, khi Hải Quân Pháp rút khỏi Việt Nam sau Hiệp Định Geneva 1954, Trung Quốc chiếm 7 đảo Hoàng Sa của Việt Nam phía đông bắc.

Tháng 1-1974, khi Quân Lực Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973 Trung Quốc chiếm nốt 6 đảo Hoàng Sa phía tây nam.

Tháng 3-1988, khi Liên Xô tài giảm viện trợ cho Việt Nam, Trung Quốc chiếm 7 đá bãi Trường Sa như: Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), Đá Gaven và Đá Johnson.

Tháng 8-1990, Thủ Tướng Trung Quốc Lý Bằng (Li Peng) đưa ra đề nghị khai thác chung (về đánh cá và khai thác dầu khí) tại toàn vùng Biển Đông Nam Á với điều kiện tiên quyết là các quốc gia Đông Nam Á phải thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại vùng biển này.

Tháng 2-1992, Trung Quốc ban hành Luật Quốc Gia về Biển và khẳng định rằng tất cả các hải đảo tại Biển Nam Hoa từ xưa vẫn thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Họ coi đó là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Căn cứ vào Luật Quốc Nội, Trung Quốc chiếm một vùng biển tại Bãi Tứ Chính (Vanguard Bank) mà họ gọi là Wanan Bei (Vạn An Bắc) để tự tiện nhượng quyền khai thác dầu khí cho hãng Creston. Bãi biển này nằm trong Vùng Đặc Quyền Kinh Tế và Thềm Lục Địa Việt Nam cách Biển Lãnh Thổ Việt Nam 190 hải lý (Territorial Sea).

Ngoài ra Bắc Kinh còn khẳng định rằng “các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa có quyền được hưởng quy chế Vùng Đặc

Quyền Kinh Tế (đánh cá) kể cả Vùng Đáy Biển (Seabed)” (để khai thác dầu khí).

Điều này đi ngược lại Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển trong Điều 121:

“Những đảo, cồn đá, bãi không có thường dân cư ngụ và không thể tự túc về kinh tế không được hưởng quy chế Vùng Đặc Quyền Kinh Tế và Thềm Lục Địa”. Những tiểu đảo này chỉ được hưởng quy chế 12 hải lý Biển Lãnh Thổ.

Năm 1995, Trung Quốc lấn chiếm một số đảo, cồn, đá, bãi tọa lạc tại Thềm Lục Địa Phi Luật Tân như Mischief Reef, Half Moon Shoal, Sabina Shoal và

Jackson Bank. Hành động này đe dọa an ninh toàn vùng Đông Nam Á và cản trở sự Tự Do Hàng Hải tại miền thế giới này.

“Lưỡi Bò Hình Chữ U theo Đường 9 Đoạn” mà Bắc Kinh gọi là “Biển Lịch Sử Trung Quốc” chiếm 80% Biển Đông Nam Á, phía đông giáp Phi Luật Tân, phía tây giáp Việt Nam và phía nam giáp Mã Lai, điểm xa nhất cách Hoa Lục

1,100 hải lý (2,000 cây số). Hành động như vậy Trung Quốc coi Biển Đông Nam Á là Nội Hải (Internal Waters). Cũng như Đế Quốc La mã trong Thế Kỷ

Thứ Nhất gọi Địa Trung Hải là “Biển Của Chúng Tôi” (Mare Nostrum/ Our Sea).

Chiếu Điều 57 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển các quốc gia duyên hải có đặc quyền đánh cá tại Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý tính từ Biển Lãnh Thổ ra khơi.

Chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển các quốc gia duyên hải có đặc quyền thăm dò và khai thác dầu khí tại Thềm Lục Địa 200 hải lý, hay rộng hơn, nếu về mặt địa chất, Thềm Lục Địa là sự tiếp nối tự nhiên của Nền

Lục Địa (Continental Margin) từ đất liền kéo dài ra ngoài biển.

Về mặt pháp lý các quốc gia duyên hải đã ký kết hay tham gia Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đương nhiên được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Pháp

Lý 200 hải lý tính từ Biển Lãnh Thổ ra khơi.

Chiếu Điều 77 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển các quốc gia duyên hải có chủ quyền tuyệt đối tại thềm lục địa để thăm dò và khai thác những tài

nguyên thiên nhiên. Đây là đặc quyền chuyên hữu theo đó không ai có quyền thăm dò và khai thác dầu khí nếu không có sự ưng thuận minh thị của quốc gia duyên hải. Đặc quyền này không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm cứ hay công bố minh thị của quốc gia duyên hải.

Điều 81 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển một lần nữa xác nhận chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu của quốc gia duyên hải trong việc tự

mình đứng ra thăm dò và khai thác dầu khí, hay ký khế ước cộng tác với các quốc gia đệ tam về những dịch vụ này.

Chiếu Điều 88 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển“các Vùng Biển Khơi (High Seas) chỉ được sử dụng trong những mục tiêu hòa bình”.

Chiếu Điều 89 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển “các quốc gia duyên hải không được xâm chiếm Vùng Biển Khơi (High Seas), và không được coi đó là lãnh thổ thuộc chủ quyền của họ”.

Như vậy tại Biển Đông Nam Á Trung Quốc không có quyền đòi Vùng Biển Khơi ngoài hải phận luật định 212 hải lý của họ (gồm 12 hải lý Biển Lãnh Thổ,và 200 hải lý Vùng Đặc Quyền Kinh Tế hay Thềm Lục Địa Pháp Lý).

Ngoài ra, tại Biển Đông Nam Á, Trung Quốc không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Địa Chất (Geological Continental Shelf) còn gọi là Thềm Lục

Địa Mở Rộng quá 200 hải lý (Extended Continental Shelf).

Vì tại Biển Đông Nam Á, trên kinh tuyến 112 có một rãnh biển sâu tới 2600 mét tại vỹ tuyến 18 (phía nam Đảo Hải Nam), và một rãnh biển khác tại vỹ tuyến 12 sâu tới 4500 mét.

Như vậy đáy biển Trung Hoa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của nền lục địa từ đất liền kéo dài ra ngoài biển. Trong trường hợp này, chiếu Điều 76 Khoản

4 và 6, Trung Hoa không có thềm lục địa địa chất hay thềm lục địa mở rộng quá 200 hải lý.

Bãi Cạn Scarborough Shoal của Phi Luật Tân cách Đảo Hải Nam 560 hải lý, và Bãi Tứ Chính (Vanguard Bank) của Việt Nam cách Đảo Hải Nam 780 hải lý,

là những Vùng Biển Khơi của Trung Quốc (High Seas) nên không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc chiếu Điều 89 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Chiếu nguyên tắc “Các Hiệp Ước Quốc Tế Phải Được Tôn Trọng”, Điều 26 Công Ước Vienna về Luật Hiệp Ước (1969) quy định như sau: “Các Hiệp Ước có hiệu lực chấp hành buộc các quốc gia kết ước phải ngay tình thi hành hiệp ước”. Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về Luật Quốc Tế coi đó là “một nguyên tắc căn bản về Luật Hiệp Ước, có lẽ là nguyên tắc quan trọng nhất trong Công Pháp Quốc Tế”.

Chiếu nguyên tắc về “Giá Trị Thượng Tôn của Luật Quốc Tế đối với Luật

Quốc Nội”, các quốc gia kết ước phải thực sự thi hành những quyền hạn và nghĩa vụ trong các hiệp ước và công ước quốc tế. Họ không thể viện dẫn Luật Quốc Nội để khước từ thi hành nghĩa vụ của họ trong các hiệp ước và công ước quốc tế mà họ đã ký kết hay tham gia.

Đó chính là trường hợp của Trung Quốc. Sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, 10 năm sau, năm 1992, Trung Quốc ban hành

Luật Quốc Nội Về Biển (Domestic Law of the Sea) để xâm phạm chủ quyền lãnh thổ tại các Thềm Lục Địa Việt Nam và Phi Luật Tân, cũng như tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Những vi phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển phải được đệ trình Tòa Án Quốc Tế (The Hague) hay các Tòa Án Luật Biển thiết lập trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Muốn giải quyết những mâu thuẫn và tranh chấp về thềm lục địa, hải phận hay hải đảo, các quốc gia đương tụng phải trước hết tuân hành những phương thức ôn hòa như điều đình, hòa giải, thương nghị hay trọng tài.

Ngoài ra Tòa Án Quốc Tế cũng có thẩm quyền giải thích và áp dụng những điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển có hiệu lực chấp hành từ năm 1994.

Sự giải quyết tranh chấp bằng những phương pháp ôn hòa như hòa giải, thương nghị, trọng tài hay tố tụng sẽ giúp Đông Nam Á khỏi biến thành một

vùng tranh chấp thường xuyên như Trung Đông (Tây Á). Với việc sử dụng luật pháp (Pháp Trị) thay thế việc dùng võ lực (phi pháp), Đông Nam Á sẽ có cơ may được hưởng một kỷ nguyên hòa bình, ổn định, hợp tác và phồn thịnh.

Nhân dịp này chúng tôi thỉnh cầu các Quốc Gia Hội Viên trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á ra quyết nghị đổi danh xưng Biển Nam Hoa thành Biển Đông Nam Á.

Danh xưng Nam Hải chỉ áp dụng cho Trung Quốc. Đối với Việt Nam nó có tên là Việt Nam Đông Hải. Đối với Mã Lai nó là Bắc Hải. Mới đây Chính Phủ Phi Luật Tân đã dùng danh xưng Biển Tây của Phi Luật Tân. Đó cũng là đề nghị của Hội Luật Gia Việt Nam tại California trong Văn Thư gửi Tổng Thống Fidel Ramos ngày 14-7-1995.

Hơn nữa danh xưng Biển Nam Hoa thường bị ngộ nhận và giải thích xuyên tạc là biển của nước Trung Hoa về phía Nam.

Hãy trả Caesar những gì của Caesar Và trả Biển Đông Nam Á cho các Quốc Gia Đông Nam Á

Chúng tôi xin cám ơn sự quan tâm của Tổng Thống về vấn đề này.
Kính thư
Thay mặt Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

Văn Thư này đã được thông tri đến Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Rodham

Clinton, Thủ Tướng Mã Lai Abdullah Ahmad Badawi và Thủ Tướng Anh David Cameron.

Hiện nay cả Mã Lai, Ấn Độ vá Úc Đại Lợi đã đứng vào chiến tuyến Bắc Cự Bá Quyền.

  

Nguyên Bản Anh Ngữ

Nguyen Huu Thong, Esq.

President

Lawyers Committee for People’s Rights

May 31, 2012

President Benigno S. Aquino III

C/o Philippine Consulate General

447 Sutter Street, Sixth Floor

San Francisco, CA 94108

Dear Mr. President:

On July 14, 1995, on behalf of the California Vietnamese Lawyers

Association, Inc., I sent President Fidel Ramos of the Philippines a letter to urge

him to submit the matter of the Southeast Asian Sea conflict to the International

Tribunal for the Law of the Sea. Today with the recent event at Scarborough

Shoal located in the Philippine exclusive economic zone and continental shelf,

I would like to submit for your consideration the Spratly islands and maritime

zone dispute.

In April 1956, when the French Navy withdrew from Vietnam after the

conclusion of the Geneva Accords of 1954, China seized seven Paracel islands.

The remaining six islands were subsequently seized in January 1974

following the American pullout from Vietnam pursuant to the Paris Peace Treaty

of 1973.

In March 1988, when the Soviets reduced their support to Vietnam,

China seized seven islands in the Sparkly including the Fiery Cross Reef, the

Gaven Reef and the Johnson Reef.

In August 1990, Chinese Prime Minister Li Peng offered to develop the

whole region jointly with the Southeast Asian countries. However, China meant

joint development of the entire South China Sea only after its sovereignty over the

whole maritime area had been recognized.

In February 1992, China promulgated “The Law of the People’s

Republic of China on Its Territorial Waters and Their Contiguous Areas”. China

used to assert that “the islands of the South China Sea have always been Chinese

territory and China has indisputable sovereignty over them.” For that reason

China seized at Vanguard Bank a tract called Wanan-Bei that China awarded to

Crestone. That tract lies on Vietnam’s Exclusive Economic Zone 190 nautical

miles from its territorial sea.

Furthermore, China stated that “the Paracel and Spratly islands have

their own territorial waters or exclusive economic zones that would give China

access to the seabed”. This allegation goes against Article 121 of the United

Nations Convention on the Law of the Sea: “Rocks which cannot sustain human

habitation or economic life of their own shall have no exclusive economic zone or

continental shelf.” They have only a 12 nautical mile-territorial sea. This

disposition should apply to all of the Paracel and Spratly islands.

In 1995, the incidents at Mischief Reef, Half Moon Shoal, Sabina Shoal

and Jackson Bank on the Philippine continental shelf have threatened the security

of the area and the freedom of navigation in the Southeast Asian Sea.

The “U Shaped” area of Nan Hai (South Sea) usually known as “the

nine dashed line” or “Cow Tongue” claimed by China as its “historic waters”

encompasses 80% of the Southeast Asian Sea, eastward to the Philippines,

westward to Vietnam and southward to Malaysia, the farthest spot having a

distance of 1,100 nautical miles from China. By doing so, China has considered

the South China Sea as its “internal waters”, the same way that the Roman Empire

called the Mediterranean Sea “Mare Nostrum” (Our Sea).

By international law, pursuant to Article 57 of the United Nations

Convention on the Law of the Sea (LOS Convention), all coastal States have been

granted exclusive fishing rights in their exclusive economic zones extending 200

nautical miles from their territorial seas.

Article 76 of the LOS Convention gives coastal states exclusive rights

to drill for oil and gas in their continental shelves which comprise the seabed and

subsoil of the submarine areas that extend throughout the natural prolongation of

its land territory to the outer edge of the continental margin, or to a distance of 200

nautical miles from the territorial sea.

Article 77 of the LOS Convention gives sovereign and exclusive rights

to the coastal States over the continental shelf:

The coastal State exercises over the continental shelf sovereign rights

for the purpose of exploring it and exploiting its natural resources.

These rights are exclusive in the sense that if the coastal State does not

explore the continental shelf or exploit its natural resources, no one may undertake

these activities without the express consent of the coastal State.

The rights of the coastal State over the continental shelf do not depend

on occupation, effective or notional, or on any express proclamation.

Concerning the drilling on the continental shelf, Article 81 of the LOS

Convention provides that “the coastal State shall have the exclusive right to

authorize and regulate drilling on the continental shelf for all purposes”.

Pursuant to Articles 88 and 89 of the LOS Convention “the high seas

shall be reserved for peaceful purposes. No State may validly purport to subject

any part of the high seas to its sovereignty”. Therefore, China could not claim its

sovereignty over the high seas or the open waters of sea beyond the limits of its

zone of national jurisdiction with its 12 nautical mile-territorial sea and 200

nautical mile- exclusive economic zone or legal continental shelf. In the Southeast

Asian Sea (South China Sea) China does not have any geological continental shelf

extending beyond 200 nautical miles.

Scarborough Shoal of the Philippines and Vanguard Bank of Vietnam,

both located over six hundred nautical miles from China, are its high seas.

The Rule Pacta Sunt Servanda applies for the observance of treaties.

Article 26 of the Vienna Convention on the Law of Treaties (1969)

declares that “every treaty in force is binding upon the parties to it and must be

performed by them in good faith”. The United Nations International Law

Commission in its commentaries to this rule characterized it as a “fundamental

principle of the law of treaties, perhaps the most important principle of

international law”.

According to the Rule of Supremacy of International Law the rights and

obligations which a state has by international law are, from the international

standpoint, superior to any rights or duties it may have under its domestic law.

Article 27 of the Vienna Convention provides that “a party may not invoke the

provisions of its internal law as justification for its failure to perform a treaty”.

That failure to perform would constitute a breach of the international law

requesting remedies with provisional measures in case the urgency of the situation

required it.

Therefore, China should not invoke its domestic Law of the Sea of 1992

to encroach upon the Vietnamese, Philippine and Malaysian Continental Shelves

and the whole Spratly and Parcel archipelagoes. These violations of the Law of the

Sea should be submitted to the International Court of Justice (ICJ) or the

International Tribunal for the Law of the Sea (ITLOS) for the resolution of

disputes in case the parties do not reach an agreement by negotiation and

conciliation. The International Court /Tribunal has jurisdiction over the matters

relating to the interpretation or application of the LOS Convention.

The settlement of these disputes by peaceful means such as negotiations,

arbitrations and judicial proceeds would keep Southeast Asia from becoming

another Middle East. With the Rule of Law taking the place of the use of force,

Southeast Asia may soon experience a period of peace, stability, cooperation and

prosperity.

I would like to seize this opportunity to propose that you change the

name South China Sea to Southeast Asian Sea. The appellation of South Sea (Nan

Hai) is good only for China; the Vietnam East Sea (Vietnam Dong Hai) applies to

Vietnam. For Malaysia it should be called Malaysia North Sea. The Philippines

have adopted the correct name of Philippines West Sea in accord with the

suggestions in my letter of July 14, 1995 to President Fidel Ramos.

Moreover, the name South China Sea could be interpreted erroneously

as the Sea of China in the South.

Let us give to Caesar what belongs to Caesar, and give Southeast Asian

Sea to the Southeast Asian countries.

Thank you for your attention to this matter.

Yours sincerely,

For the Lawyers Committee For People’s Rights

NGUYEN HUU THONG, President
Posted by Việt Anh